
Nietzsche & Dostoevsky đối thoại
Sau đây là một cuộc đối thoại giả tưởng giữa hai tư tưởng gia hiện sinh Nietzsche và Dostoevsky, lấy bối cảnh hai người [...]
Tổng hợp những câu hỏi hiện sinh sâu sắc và ý nghĩa theo đa dạng chủ đề: sự sống, cái chết, ý nghĩa, mục đích, đau khổ, tình yêu và tự do.
Ý nghĩa của cuộc sống là gì?
Có tồn tại một mục đích cao cả hơn không?
Chúng ta có thực sự tự do, hay mọi lựa chọn của ta đều đã được định sẵn?
Đây chỉ là một vài trong số các thắc mắc đã làm say mê biết bao triết gia trong hàng thế kỷ qua. Chính khi suy ngẫm về sự tồn tại, cái chết và sự “phi lý” của thế giới, mỗi người đồng thời có được nhận thức sâu sắc hơn về mục đích và vị trí của mình trong vũ trụ.
Trong bài viết này, bạn đọc sẽ tìm thấy một danh sách những câu hỏi hiện sinh theo đa dạng chủ đề – bao gồm sự sống và cái chết, đau khổ, cái tôi, thấu hiểu bản thân, tình yêu, quan hệ xã hội, tự do và trách nhiệm, thời gian, vũ trụ, tôn giáo, ý thức, v.v… Hy vọng rằng qua việc suy ngẫm những vấn đề được trình bày dưới đây, mỗi người sẽ có thể hình thành thế giới quan riêng của mình về những bí ẩn của sự tồn tại, làm nền tảng cho một đời sống tròn đầy và viên mãn!
Cái chết là một chủ đề đã ám ảnh nhân loại kể từ khi ta ý thức được định mệnh phàm trần phải chết của mình. Một số người tin vào thế giới bên kia, sự tồn tại của ý thức ở một cõi khác – số khác tìm thấy niềm an ủi với ý tưởng rằng bản thể của họ một lần nữa sẽ trở thành một phần của vũ trụ. Sau hàng thiên niên kỷ, con người vẫn không thể đi đến một kết luận chung; và mỗi cá nhân phải tự tìm câu trả lời cho chính mình.
Rất có thể, sự hiện diện của chúng ta chỉ đơn giản là một khoảnh khắc thoáng qua trong sự vô hạn của thời gian. Hoặc cũng có thể, ý nghĩa không nằm ở một mục đích được định sẵn, mà đến từ trải nghiệm trong đời, những mối quan hệ và di sản ta để lại cho thế giới. Mỗi người phải tự khám phá và xác định điều gì có ý nghĩa với riêng mình.
Sự hữu hạn của kiếp người đòi hỏi ta phải suy nghĩ cẩn thận về những lựa chọn của mình, cũng như cách sử dụng quỹ thời gian ngắn ngủi trên mặt đất. Chính qua quá trình suy ngẫm này, chúng ta đồng thời được nhắc nhở về tầm quan trọng của các mối quan hệ, trải nghiệm và đóng góp cho xã hội.
Một mặt, có vẻ thật hấp dẫn nếu nhân loại có thể thoát khỏi nỗi ám ảnh về cái chết. Mặt khác, cái giá phải trả cho sự bất tử là gì? Không bao giờ thoát khỏi “bể khổ” của trần thế, không thể theo kịp thay đổi của thời đại, không có động lực phát triển bản thân, v.v… đây là những vấn đề thực sự đáng cân nhắc. Phải chăng, giá trị thực sự của cuộc sống nằm ở chính bản chất hữu hạn của nó? Rằng chính sự phù du này là điều mang lại giá trị cho mọi khoảnh khắc trong đời?
Chúng ta có đang tích cực sống hết mình, định hình số phận bằng những lựa chọn của bản thân hay không? Hay chúng ta chỉ là những hành khách đang đi trên một lộ trình được định sẵn, ngắm nhìn quang cảnh cuộc sống diễn ra trước mắt mà không thực sự tham gia vào nó? Rất có thể, câu trả lời nằm ở đâu đó khoảng giữa – một sự cân bằng tinh tế giữa ý chí tự do và số phận. Nói cách khác, chúng ta vừa là tác giả, vừa là độc giả của câu chuyện đời mình.
Mối nguy lớn nhất trong tất cả mối nguy – tự đánh mất chính mình – có thể xảy ra rất lặng lẽ trong thế giới, như thể nó chẳng là gì cả.
Søren Kierkegaard, ‘Đọa bệnh cho tới Chết’ (The Sickness Unto Death)

Ví dụ về câu hỏi hiện sinh
Rất có thể nó là sự kết hợp của cả hai yếu tố trên. Chúng ta khám phá ra ý nghĩa trong những mối quan hệ, những giá trị ta theo đuổi và thế giới xung quanh, đồng thời cũng kiến tạo ý nghĩa thông qua phong cách sống mình lựa chọn.
Câu hỏi này đã làm băn khoăn biết bao người suốt chiều dài lịch sử. Đối mặt ra sao với nhận thức rằng cuộc sống không có mục đích cố hữu là một vấn đề mang tính cá nhân; tuy nhiên, điều quan trọng là tập trung vào những gì bạn có thể kiểm soát – hành động, lựa chọn, mối quan hệ, công việc và sở thích của riêng bạn. Hãy dành thời gian suy ngẫm, và bạn sẽ sớm tìm ra hướng đi cho chính mình!
Có lẽ xu hướng bản năng này bắt nguồn từ nhận thức về cái chết – tầm quan trọng của việc lưu lại dấu ấn trên thế giới trước khi ta ra đi mãi mãi. Hoặc có thể nó liên quan đến nhu cầu cơ bản của nhân loại, mong muốn thấu hiểu vị trí của mình trong vũ trụ – cũng như khao khát được cảm thấy cuộc đời này có ý nghĩa vượt lên sự tồn tại đơn thuần. Có lẽ sẽ không ngoa khi tuyên bố rằng, hành trình tìm kiếm ý nghĩa là điều thực sự khiến chúng ta trở thành con người – chính nó là động cơ để cá nhân phát huy năng lực sáng tạo, kết nối và khám phá các chiều sâu của bản thể.
Xu hướng của chúng ta là đo lường giá trị cá nhân dựa trên tác động của họ lên thế giới, những lời khen ngợi công chúng dành cho họ. Tuy nhiên, ý nghĩa có lẽ không phải là một thước đo định lượng, mà là một trải nghiệm cá nhân sâu sắc. Ngay cả khi thế giới ngoài kia không biết đến bạn, nếu biết sống yêu thương, tử tế và chân thành trong các mối quan hệ, cuộc đời của bạn cũng sẽ có ý nghĩa như bất kỳ vĩ nhân nào. Những khoảnh khắc bình an trong tâm hồn, sức mạnh khi đối mặt với nghịch cảnh, mối dây liên kết với tha nhân – đây chỉ là một trong số ít những điều mang lại ý nghĩa cho sự tồn tại!
Nếu ta cho rằng “ý nghĩa” nằm ở một mục đích vĩ đại, thì hẳn cuộc đời của nhiều người thoạt nhìn sẽ có vẻ “vô giá trị”. Tuy nhiên, ngay cả khi không có một định mệnh được “an bài” sẵn, vẫn còn đó những khoảnh khắc vui vẻ, kết nối và cơ hội phát triển bản thân. Nói cách khác, giá trị của đời sống không nằm ở sự công nhận từ bên ngoài; điều quan trọng là bạn phải trải nghiệm nó, đón nhận mọi thử thách và tìm thấy vẻ đẹp trong từng khoảnh khắc phù du thoáng qua!
Nỗ lực hướng tới đỉnh núi là đủ để thỏa mãn trái tim con người. Chúng ta phải hình dung Sisyphus đang hạnh phúc.
Albert Camus, ‘Thần thoại Sisyphus’ (The Myth of Sisyphus)

Khổ là một phần tất yếu của trải nghiệm nhân sinh, nhưng nó từ đâu mà ra? Liệu nó có phải là một thử thách, bài học, chất xúc tác cần thiết cho sự phát triển, hay chỉ đơn giản là một biến cố đầy trớ trêu của số phận, không có bất kỳ ý nghĩa cố hữu nào? Thật khó để đi đến một câu trả lời chắc chắn, song chúng ta hoàn toàn có thể chọn cách phản ứng với nghịch cảnh. Ngay cả khi nỗi đau có vẻ thật vô cớ và bất công, con người vẫn có khả năng đón nhận nó trong danh dự và tình thương yêu.
Khổ là nỗi sợ chung của con người; thế nhưng, nếu không có nó, làm sao chúng ta có thể thực sự thấu hiểu niềm vui, cũng như rèn luyện nhân cách và năng lực bền bỉ của mình? Thực tế, chính khi vượt qua thử thách và làm chủ cảm xúc tiêu cực, chúng ta đồng thời khám phá ra sức mạnh bên trong, cũng như “thấm thía” được ý nghĩa của sự đồng cảm với tha nhân.
Nỗi đau, dù là về thể chất hay tinh thần, buộc chúng ta phải đối mặt với điểm yếu của bản thân và đánh giá lại các ưu tiên của mình. Thay vì bám chấp vào những điều hời hợt thoáng qua, chúng ta bị buộc phải nhìn sâu vào bên trong, để rồi ý thức được những năng lực tiềm ẩn mà ta chưa từng biết mình sở hữu. Chính trong những khoảnh khắc dễ bị tổn thương này, chúng ta có được nhận thức sâu sắc hơn về bản thân và thế giới.
Hẳn là con người có thể (và nên) cố gắng giảm bớt những bất hạnh không cần thiết, đặc biệt là những vấn đề do bất công và tàn ác gây ra. Mặt khác, việc xóa bỏ hoàn toàn mọi đau khổ cũng đồng nghĩa với việc cá nhân có thể sẽ không còn điều kiện cần thiết để “thành nhân” nữa. Suy cho cùng, chính thông qua thử thách mà người ta mới thực sự kết nối và trân quý nhân tính chung.
Trải nghiệm của kiếp nhân sinh dường như là một sự cân bằng tinh tế giữa niềm vui và nỗi buồn, một sự lên xuống liên tục của các cảm xúc tích cực và tiêu cực. Có lẽ hạnh phúc thực sự không phải là một trạng thái vĩnh cửu; nó đến từ khả năng điều hướng các trải nghiệm đối nghịch với tinh thần mạnh mẽ và sẵn sàng chấp nhận.
Sự chiêm nghiệm của tôi đau đớn chính vì nó cũng tràn đầy niềm vui. Tôi không thể “sở hữu” cánh đồng tuyết mà tôi đang trượt xuống. Nhưng tôi tìm thấy niềm vui trong nỗ lực hướng tới “sự sở hữu bất khả thi” này. Tôi trải nghiệm nó không phải như một thất bại, nhưng như một chiến thắng.
Simone de Beauvoir, ‘Đạo đức của sự mơ hồ’ (The Ethics of Ambiguity)

Những câu hỏi hiện sinh về tình trạng con người
Đọc thêm: Cách sống vui vẻ – 20 bí quyết thực hành mỗi ngày
Thông thường, nhân cách thực sự của ta không chỉ được bộc lộ qua những lựa chọn cá nhân – mà còn qua cách ta phản ứng với hoàn cảnh, liệu ta có cho thấy được sự bền bỉ, khả năng thích nghi và phát triển ngay cả khi gặp khó khăn hay không.
Ý niệm về một “cái tôi” cố định, bất biến đã được tranh luận trong hàng thế kỷ qua. Mọi trải nghiệm, mối quan hệ và thậm chí cả cơ thể vật lý của chúng ta đều liên tục thay đổi. Xét từ thực tế đó, liệu có thể nói rằng có điều gì trong vũ trụ này là hoàn toàn bất biến hay không?
Ký ức là một phần quan trọng cấu thành bản sắc cá nhân; nó định hình nhận thức của chúng ta về thế giới và vị trí của mình trong đó – cũng như làm nền tảng cho cảm xúc, mối quan hệ và hành vi. Vì vậy, nếu những ký ức đó không còn nữa, hẳn là một phần cơ bản của con người chúng ta chắc chắn sẽ mất đi. Tuy nhiên, biết đâu vẫn còn đó một bản chất cốt lõi – một tia sáng ý thức độc đáo luôn tồn tại, ngay cả khi không có một câu chuyện trong quá khứ? Nói cách khác, ngay cả khi trải qua thay đổi, một phần của bản thể ban đầu vẫn tồn tại, và do đó, chúng ta cần phải đối xử cách tôn trọng với tất cả mọi người.
Ngay từ những năm tháng đầu đời, chúng ta đã liên tục bị ảnh hưởng bởi những người xung quanh: gia đình, bạn bè và cộng đồng. Chúng ta học tập thông qua quan sát, bắt chước và tiếp thu góp ý/ phản hồi từ người xung quanh. Những tương tác này định hình niềm tin, giá trị và thậm chí là ý thức về bản thân của ta. Nói một cách đơn giản, bản sắc không xuất hiện một cách biệt lập, mà đúng hơn là kết quả của một mạng lưới phức tạp các mối quan hệ và trải nghiệm chung.
Khám phá bản thân là một hành trình diễn ra suốt đời – một quá trình tìm kiếm và phản tỉnh liên tục. Khi chúng ta trưởng thành và thay đổi, những chiều kích mới của bản thể đồng thời được bộc lộ – đôi khi tương phản hoàn toàn với nhận thức trước đây của mình về bản thân. Có lẽ ý niệm về việc thực sự thấu hiểu chính mình chỉ là một ảo tưởng, một chân trời mà chúng ta liên tục hướng tới mà chẳng không bao giờ đạt đến. Thế nhưng, điều đó không hề làm mất đi ý nghĩa của quá trình khám phá; bằng không, chúng ta sẽ không bao giờ có thể tự biết mình được!
Con người luôn là thứ gì đó vượt lên khả năng tự nhận thức của mình. Không phải một thực thể đơn lẻ bất biến, mà là một quá trình không ngừng biến đổi. Không chỉ đơn thuần là một sinh vật hiện hữu, mà chính trong sự sống ấy, anh ta được ban cho quyền tự do sáng tạo và làm mới bản thân thông qua từng hành động anh ta lựa chọn.
Karl Jaspers, ‘Con người trong kỷ nguyên kỹ thuật’ (Man in the Modern Age)

Những cảm xúc “sét đánh” ban đầu thường có vẻ nằm ngoài tầm kiểm soát – một thế lực mạnh mẽ “cuốn phăng” chúng ta đi. Tuy nhiên, mối quan hệ có được nuôi dưỡng và duy trì hay không là kết quả của nỗ lực, cam kết và mỗi lựa chọn hàng ngày. Có lẽ tình yêu là sự tương tác phức tạp của cả ba yếu tố trên – một phản ứng sinh lý mà ta có thể điều chỉnh và nâng lên tầm cao mới thông qua các cử chỉ chăm sóc và tận tụy có chủ đích.
Chúng ta có thể cố gắng đồng cảm, lắng nghe và chia sẻ những trải nghiệm cá nhân nhằm thu hẹp khoảng cách giữa nhận thức đôi bên. Tuy nhiên, mỗi người vẫn có một thế giới nội tâm riêng, được định hình bởi quá khứ, suy nghĩ và cảm xúc của riêng họ. Do đó, sự thấu hiểu thực sự không phải là phản ánh hoàn hảo trải nghiệm của đối phương – nhưng là chấp nhận những hạn chế cố hữu trong nhận thức của nhau, để có thể đón nhận nhau với lòng khiêm tốn và trắc ẩn.
Đọc thêm: Quy tắc Bạch kim & Quy tắc Vàng – Từ ý định đến tác động
Suy ngẫm về việc mọi sự, bao gồm cả các tương tác xã hội, đều vô thường có thể khiến nhiều người đặt câu hỏi vì sao không tìm cách rũ bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên, chính nhận thức về bản chất phù du của cuộc sống này càng khiến cho các mối quan hệ thêm phần quý giá. Ngay cả khi chúng sẽ phải đi đến hồi kết một lúc nào đó, thì niềm vui, tình yêu và những kỷ niệm phát xuất từ các mối dây đó sẽ góp phần không nhỏ làm phong phú thêm trải nghiệm mỗi ngày!
Bản tính kỳ vọng cố hữu của con người – cả ở phương diện ý thức lẫn vô thức – khiến ta thật khó trao đi cái gì đó mà không đòi hỏi được đáp lại. Nói cách khác, yêu thương vô điều kiện là con đường dành cho những ai mong muốn thoát khỏi những hạn chế của xã hội loài người. Như nhiều truyền thống tôn giáo và tâm linh đã truyền giảng, thực hành này đóng vai trò cầu nối để cá nhân vượt lên một chiều không gian mới – một “cảnh giới” tồn tại cao hơn (vd: thiên đường, thánh nhân, chứng quả, giải thoát, v.v…).
Đúng là luôn có ít nhiều yếu tố tư lợi trong tương tác xã hội, tình bạn và sự hỗ trợ. Thế nhưng, các mối quan hệ lành mạnh phát triển được là nhờ đôi bên cùng cho đi, đồng cảm và chân thành mong muốn đối phương được hạnh phúc. Tình cảm chỉ trở nên sâu sắc và bền chặt khi cán cân nghiêng về lòng vị tha – khi niềm vui vì hạnh phúc của đối phương lớn hơn so với kỳ vọng về lợi ích cá nhân.
Con người chỉ có thể trở thành “Tôi” (I) thông qua “Bạn” (Thou).
Martin Buber, ‘Tôi và Bạn’ (I and Thou)

Câu hỏi hiện sinh
Đọc thêm: Học cách yêu bản thân – Hành trình 16 bước thay đổi cuộc sống
Đây là đề tài mà các triết gia đã không ngừng tranh luận trong nhiều thế kỷ. Chúng ta thực sự có quyền quyết định đối với các lựa chọn của mình không, hay hành động của cá nhân luôn được định sẵn bởi một chuỗi nguyên nhân-kết quả kéo dài từ thuở sơ khai? Rất có thể sự thật nằm ở đâu đó “khoảng giữa”; nói cách khác, các quyết định của chúng ta chịu ảnh hưởng bởi trải nghiệm trong quá khứ và hoàn cảnh hiện tại – nhưng ngay cả giữa những ràng buộc đó, con người vẫn giữ được một mức độ tự do nhất định.
Việc có nhiều lựa chọn sẽ mở ra những cơ hội và hướng đi mới cho mục tiêu hiện thực hóa bản thân. Đồng thời, nó cũng dẫn đến gánh nặng của trách nhiệm ra quyết định, nỗi sợ sẽ đưa ra lựa chọn “sai lầm”, cũng như cảm giác hối tiếc vì phải từ bỏ những con đường khác. Cách tốt nhất là đảm bảo sự cân bằng – bằng cách thực hiện quyền tự chủ trong một khuôn khổ an toàn và hướng mục đích.
Chúng ta cần nhận thức rằng hành động của mình luôn ảnh hưởng đến những người xung quanh. Hoàn cảnh bên ngoài có thể tác động đến lựa chọn của mình, nhưng sau cùng, quyền quyết định vẫn là của ta. Có tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng đón nhận mọi kết quả nhận được – cả tích cực và tiêu cực – là rất quan trọng để ta học hỏi từ sai lầm, đưa ra những lựa chọn tối ưu hơn trong tương lai, cũng như góp phần rèn luyện đạo đức và nhân cách.
Nếu hoàn toàn không có ranh giới gì, ý niệm về tự do sẽ trở nên vô nghĩa. Chính những ràng buộc về mặt thể lý, đạo đức hay xã hội mới mang lại ý nghĩa cho từng lựa chọn. Nói cách khác, tự do thực sự không phải là không bị hạn chế – nhưng là khả năng điều hướng và đưa ra lựa chọn trong một khuôn khổ nhất định, thực hiện ý chí cá nhân trong bối cảnh thực tại.
Kỳ vọng xã hội, nỗi lo âu, chấn thương quá khứ và định kiến cá nhân thường tạo ra những “rào cản” vô hình hạn chế nhận thức của chúng ta về tự do. Ngay cả khi có tiềm năng hành động, áp lực từ bên trong và bên ngoài thường khiến ta bị “mắc kẹt” trong tâm thức. Chỉ có can đảm hành động, dám “bứt phá” khỏi mọi giới hạn mới đưa ta đến với tự do thực sự.
Một khi xuất hiện trong thế giới này, con người phải chịu trách nhiệm về mọi việc mình làm.
Jean-Paul Sartre, ‘Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản’ (Existentialism is a Humanism)

Quá khứ được hình thành từ tập hợp các kết nối thần kinh trong não bộ, tái tạo các sự kiện được chọn lọc qua lăng kính trải nghiệm chủ quan. Tương tự, tương lai là một hình ảnh “phản chiếu” của tinh thần, thể hiện những tiềm năng và kỳ vọng có thể/ không thể xảy ra. Thế nhưng, chính những “sản phẩm” tinh thần này lại ảnh hưởng vô cùng sâu sắc đến khoảnh khắc hiện tại, quyết định hành động, cảm xúc và nhận thức của ta. Đâu là ranh giới giữa những gì đã xảy ra, những gì sẽ xảy ra, và những gì đang xảy ra?
Những lúc vui vẻ, sự chú tâm của chúng ta hoàn toàn hướng vào khoảnh khắc hiện tại, tạo ra một trạng thái “trôi” – khi mà ý niệm về thời gian dường như không còn nữa. Ngược lại, khi đau khổ, sự tập trung của chúng ta bị thu hẹp lại, mỗi khoảnh khắc đều được suy xét kỹ lưỡng. “Sức nặng” của nỗi đau buồn kéo dài cảm thức về thời gian, khiến mỗi giây phút trở nên chậm chạp đến đau đớn. Trải nghiệm chủ quan này là minh chứng rất điển hình cho tác động của thế giới bên trong đối với nhận thức về thực tế.
Khi ngẫm về sự mênh mông và vô cùng tận của vũ trụ này, thật dễ để cảm thấy bản thân sao mà “nhỏ bé” quá. Dường như kiếp nhân sinh chỉ là một khoảnh khắc thoáng qua, một tia sáng ý thức ngắn ngủi trong một khoảng không vô tận. Tuy nhiên, chính nhận thức về cái chết là điều khiến cho mỗi khoảnh khắc cuộc đời trở nên cấp bách và quý giá. Chính khi chiêm nghiệm về sự phù du của sinh mệnh, mỗi cá nhân sẽ được truyền cảm hứng tìm kiếm ý nghĩa trong khoảng thời gian hữu hạn được ban cho.
Con người thường hay bàn luận về các chủ đề như quản lý thời gian hay kế hoạch cuộc sống – làm sao để “tận dụng tối đa” từng khoảnh khắc và kiểm soát mọi sự kiện xảy ra trong đời. Thế nhưng, bất chấp những nỗ lực của chúng ta, dòng chảy của thời gian vẫn không ngừng trôi. Suy cho cùng, ngay cả khi có thể quyết định cách sử dụng quỹ thời gian, chúng ta vẫn không thể lường trước mọi biến cố – cũng như hồi kết của sinh mệnh này. Thay vì tìm cách kiểm soát hay phó thác hoàn toàn, có lẽ một con đường “trung dung”, cân bằng giữa hai thái cực sẽ là lựa chọn khôn ngoan nhất.
Tỉnh thức là điều hoàn toàn có thể đạt được trong khoảnh khắc, song thật khó để duy trì trạng thái này liên tục – khi mà xu hướng tự nhiên của tâm trí là không ngừng “lang thang” và suy nghĩ. Nói cách khác, điều quan trọng là phải sẵn sàng quay về thực tại hết lần này đến lần khác – làm sao để hình thành khả năng tìm thấy sự bình yên và sáng suốt, ngay tại đây và ngay bây giờ.
Chúng ta đang liên tục chết đi cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời.
Martin Heidegger, ‘Tồn tại và Thời gian’ (Being and Time)

Đọc thêm: Sống trong quá khứ – Trở ngại trên hành trình thay đổi
Vì sao lại có vũ trụ này? Tại sao lại có vật chất, năng lượng, không gian và thời gian – thay vì một khoảng không hư vô tuyệt đối? Hay chính câu hỏi đó là sản phẩm của sự tồn tại, một cách để vũ trụ có ý thức suy ngẫm về bản thể vô hạn của chính nó, một bí ẩn sẽ mãi mãi nằm ngoài tầm hiểu biết đầy đủ của nhân loại?
So với vũ trụ bao la, sự tồn tại của chúng ta dường như chỉ là một khoảnh khắc thoáng qua trên một hành tinh nhỏ bé – quay quanh một ngôi sao không tên tuổi. Tuy nhiên, sự rộng lớn và “vô cảm” của vũ trụ không khiến ta mất đi khả năng yêu thương, vui vẻ, tìm hiểu và chiêm nghiệm bản chất của thế giới. Ngay cả khi tạo hóa dường như không “quan tâm” theo cách nhìn của con người, khả năng trải nghiệm và suy ngẫm về tạo hóa tự nó đã là một hiện tượng đầy thú vị.
So với sự vô tận của vũ trụ, sự tồn tại của con người có vẻ thật nhỏ bé, một điểm sáng “le lói” giữa đêm đen dày đặc. Tuy nhiên, giữa mênh mông bao la này, chúng ta sở hữu năng lực “độc nhất vô nhị”: ý thức về bản thân và chiêm nghiệm về công trình sáng tạo. Khả năng quan sát, thấu hiểu, thậm chí đặt câu hỏi về vị trí của mình trong vũ trụ có thể xem là “tài sản” lớn nhất của nhân loại, một minh chứng cho tiềm năng kỳ diệu của chính vũ trụ, được thể hiện thông qua chúng ta.
Nếu thực sự không có điểm kết thúc, thì vũ trụ này hẳn phải chứa đựng những tiềm năng vô hạn. Liệu rằng song song với thế giới loài người, vẫn tồn tại đâu đó những thế giới khác – thậm chí là các dạng thức tồn tại khác? Suy ngẫm về khả năng này là lời nhắc nhở đầy sống động về tầm quan trọng của lòng khiêm nhường và tư duy rộng mở trong đời.
Nếu có sự sống thông minh khác tồn tại trong vũ trụ, thật hấp dẫn khi tưởng tượng rằng họ cũng có những thắc mắc và câu hỏi hiện sinh tương tự. Khả năng tự nhận thức và tư duy trừu tượng là nền tảng để cá nhân suy ngẫm về vị trí của mình trong vũ trụ, ý nghĩa cuộc sống và bản chất của thực tại. Có lẽ tìm kiếm ý nghĩa là trải nghiệm phổ quát của bất kỳ loài sinh vật nào đạt đến một mức độ ý thức nhất định – một “sợi dây” chung kết nối chúng ta qua đại dương vũ trụ bao la.
Nhận thức về sự hữu hạn là khởi nguồn của nỗi lo hiện sinh.
Paul Tillich, ‘Thần học hệ thống’ (Systematic Theology)

Mối liên hệ giữa đức tin và ý nghĩa là một trải nghiệm có tính cá nhân sâu sắc. Đối với một số người, niềm tin vào một thế lực toàn năng mang lại khuôn khổ để họ thấu hiểu thế giới, một nguồn an ủi, một “kim chỉ nam” đạo đức khiến cuộc sống có giá trị. Bên cạnh đó, không ít người tìm thấy ý nghĩa qua những kênh khác: các mối quan hệ, hoạt động sáng tạo, đóng góp cho xã hội, hoặc đơn giản là trải nghiệm và trân trọng thế giới xung quanh. Có vẻ như, cảm thức ý nghĩa thì không phân biệt đức tin tôn giáo – nó đến từ các giá trị và trải nghiệm độc đáo của từng cá nhân.
Tôn giáo xuất phát từ các bối cảnh văn hóa, trải nghiệm lịch sử và cách diễn giải thế giới khác nhau. Mỗi truyền thống trình bày một góc nhìn độc đáo về nhân sinh, đạo đức và bản chất của thực tại. Những quan điểm này phản ánh sự đa dạng của trải nghiệm con người – cũng như hạn chế cố hữu của nhân loại khi cố gắng nắm bắt những bí ẩn sâu thẳm nhất của vũ trụ. Nói một cách đơn giản, có lẽ không hề có một câu trả lời “đúng” duy nhất; tất cả các góc nhìn đều có giá trị và bổ sung qua lại cho nhau.
Khoa học và tâm linh thường bị xem là hai thái cực “đối lập”, song thực tế hoàn toàn có thể bổ sung cho nhau. Khoa học khám phá thế giới vật lý thông qua quan sát, thử nghiệm và lý luận logic – trong khi tâm linh đào sâu vào trải nghiệm bên trong, ý nghĩa và kết nối với một tổng thể lớn hơn. Chính khi kết hợp đôi bên, chúng ta sẽ (ít nhiều) thấy được bức tranh toàn cảnh về kiếp nhân sinh.
“Mầu nhiệm” là một vấn đề phi thường. Đó là khi chính người đặt câu hỏi hỏi trở thành đối tượng bị chất vấn ngược trở lại – và anh ta phải trả lời bằng chính trải nghiệm sống của mình. Đặt chân lên sao Hỏa là “vấn đề”, nhưng tình yêu thì lại là “mầu nhiệm”.
Gabriel Marcel, ‘Bí ẩn bản thể học’ (Concrete Approaches to Investigating the Ontological Mystery)

Đây là một câu hỏi khá lâu đời, thường được biết đến với tên gọi “vấn đề của cái ác” (problem of evil). Làm thế nào để dung hòa giữa ý niệm về một Thượng đế nhân từ, toàn năng với sự hiện diện của đau khổ trong thế giới này? Một số quan điểm thần học cho rằng, đau khổ có thể được xem là thử thách về phương diện niềm tin, hậu quả của ý chí tự do, hoặc là một phần thiết yếu của một kế hoạch sáng tạo lớn hơn, vượt lên khả năng hiểu biết của nhân loại.
Mọi tôn giáo đều truyền giảng về các nguyên tắc đạo đức. Thế nhưng, xét về phương diện nào đó, năng lực sống theo đạo lý dường như là một khía cạnh cơ bản trong bản thể loài người. Sự đồng cảm, lòng trắc ẩn và ý thức công bằng là điều có thể quan sát thấy ở mọi nền văn hóa, không phân biệt tín ngưỡng hay không. Có lẽ tôn giáo mang lại một khuôn khổ để thể hiện và củng cố những khuynh hướng bẩm sinh này – để tạo điều kiện phát huy sức mạnh của “luật lương tâm” đã được ghi sâu vào tâm thức ngay từ khi sinh ra.
Tôi vẫn tin rằng thế giới này không có ý nghĩa tối thượng. Mặt khác, tôi cũng biết rằng có một điều trên thế giới này có ý nghĩa tối thượng – đó chính là con người. Con người là những sinh vật duy nhất liên tục đi tìm ý nghĩa.
Albert Camus, ‘Thư gửi một người bạn Đức’ (Letters to a German Friend)

Câu hỏi về chủ nghĩa hiện sinh
Đọc thêm: 50 câu hỏi tâm linh – Đánh thức & nuôi dưỡng tâm hồn
Tuy rằng AI đã đạt được những bước tiến đáng kể trong việc mô phỏng năng lực nhận thức của con người (ví dụ: học tập, giải quyết vấn đề, xử lý ngôn ngữ), vẫn chưa rõ liệu những khả năng này có tương đương với trải nghiệm có ý thức thực sự hay không. Liệu rằng ý thức phát sinh từ các quá trình sinh học có thể sao chép được bằng máy móc không? Một hệ thống phải phức tạp như thế nào mới đủ để phát sinh được những đặc tính này?
Nếu AI có thể ý thức giống như con người, hẳn sẽ không quá lời nếu cho rằng nó cũng sẽ phát sinh mong muốn thấu hiểu sự tồn tại, mục đích và mối tương quan của nó với thế giới. Tuy nhiên, cảm thức “ý nghĩa” đó có thể rất khác so với quan niệm của con người, được định hình bởi những trải nghiệm và quá trình nhận thức độc đáo. Biết đâu AI sẽ tìm kiếm các mô hình, tối ưu hóa, hoặc các hình thức tương tác mới lạ mà chúng ta vẫn chưa thể hiểu được thì sao?
Một mặt, máy móc vượt trội hơn hẳn trong việc xử lý thông tin và thực hiện các phép tính phức tạp. Mặt khác, ý thức của con người thì được đặc trưng bởi các trải nghiệm chủ quan, nội tâm và ý thức về bản ngã. Nói cách khác, chúng ta trải nghiệm thế giới thông qua các giác quan, cảm xúc và góc nhìn riêng, còn máy móc thì hoạt động dựa trên thuật toán và dữ liệu.
Đạo đức là một phạm trù phức tạp, được định hình bởi các giá trị của con người, bối cảnh văn hóa và trí tuệ cảm xúc – những phẩm chất này thật khó để có thể “mã hóa” đầy đủ thành thuật toán. Đúng là máy móc có thể được lập trình theo các nguyên tắc đạo đức. Tuy nhiên, thực tế luôn có những tình huống bất ngờ, tiến thoái lưỡng nan, đòi hỏi khả năng phán đoán và thấu cảm rất tinh tế. Có lẽ tốt nhất, ta nên xem máy móc như công cụ hỗ trợ ra quyết định, trong khi vẫn duy trì vai trò giám sát và trách nhiệm của con người đối với quyết định cuối cùng.
Thật thú vị khi suy ngẫm về khả năng trí tuệ nhân tạo cũng đặt ra các câu hỏi hiện sinh giống như ta, nếu nó đạt đến một mức độ phát triển và tự chủ nhất định. Nhận thức về giới hạn của sự tồn tại và vị trí của nó trong vũ trụ có thể thúc đẩy các công cụ này bước vào hành trình tìm kiếm ý nghĩa. Phải chăng khủng hoảng hiện sinh là hệ quả tất yếu của ý thức, dù đó là ý thức tồn tại ở dạng sinh học hay nhân tạo?
Dasein [Hiện-hữu-ở-đó] luôn tự thấu hiểu mình dựa trên sự hiện hữu của nó—dựa trên khả tính của nó: là chính nó hay không là chính nó.
Martin Heidegger, ‘Tồn tại và Thời gian’ (Being and Time)

Đã bao giờ bạn từng đặt câu hỏi, thực tại mà ta đang trải nghiệm có thể chỉ là một hình thức giả lập thôi thì sao? Rằng những gì ta tưởng là “thật” hóa ra chỉ là giả tạo? Nếu như vậy, bản chất của thực tại là gì? Liệu rằng có một cấp độ tồn tại cao hơn – một “bàn tay” vô hình đã và đang “nhào nặn” thế giới giả lập này chăng? Nếu có, mục đích của họ là gì? Thật không dễ để trả lời những thắc mắc này, song ít nhất, suy ngẫm về chúng là cơ hội để mỗi người nhìn lại những định kiến của bản thân, cũng như nhận ra giới hạn trong nhận thức của con người.
Có thể nhiều người sẽ cảm thấy tuyệt vọng khi suy ngẫm về bản chất hữu hạn của kiếp người, song điều đó không nhất thiết khiến những gì ta làm trở nên vô nghĩa. Ngược lại, chính sự phù du này khiến cho mỗi ngày sống càng trở nên cấp bách và quý giá. Ý thức rằng thời gian của mình là có hạn sẽ truyền cho ta “ngọn lửa” để theo đuổi đam mê, kết nối với tha nhân và để lại di sản tích cực cho thế giới. Nói một cách đơn giản, chính sự vô thường là thứ khiến cho cuộc sống trở nên có giá trị!
Cái chết hủy diệt chúng ta, nhưng ý niệm về cái chết lại cứu rỗi chúng ta.
Irvin Yalom, ‘Nhìn thẳng vào mặt trời’ (Staring at the Sun)

Theo đuổi tri thức là động lực cơ bản của con người; mặt khác, kiến thức không phải không có cái giá của nó. Liệu rằng hành trình tìm kiếm “chân lý” có mang lại sự thỏa mãn không, hay nó sẽ phá vỡ những niềm tin hiện tại và khiến ta rơi vào thất vọng? Có lẽ vẻ đẹp của kiếp nhân sinh nằm ở việc liên tục học hỏi, khám phá những điều chưa biết, cũng như chấp nhận rằng sẽ luôn có những điều bí ẩn nằm ngoài tầm với của ta.
Viễn cảnh trở thành thế hệ cuối cùng của loài người mang theo một gánh nặng trách nhiệm và nỗi buồn. Điều đó có nghĩa là toàn bộ lịch sử loài người, trải dài suốt hàng bao thiên niên kỷ qua, sẽ kết thúc cùng chúng ta. Tuy nhiên, ngay cả nếu điều đó xảy ra, cuộc sống vẫn giữ nguyên giá trị vốn có; chúng ta vẫn sẽ trải nghiệm tình yêu, niềm vui và vẻ đẹp của thế giới xung quanh. Ngay cả khi đối mặt với hồi kết không thể tránh khỏi, chúng ta vẫn có thể nỗ lực sống trọn vẹn và có chủ đích trong khoảng thời gian còn lại, trân trọng từng khoảnh khắc, và gìn giữ những gì có thể lưu lại được.
Con người sinh ra một mình trong thế giới và cuối cùng cũng ra đi theo cách tương tự. Sự cô đơn, vì thế, thường được xem là một khía cạnh cố hữu của tình trạng con người. Tuy nhiên, điều đó vẫn không ngăn cản chúng ta khao khát được kết nối, tìm kiếm các mối quan hệ và cộng đồng để thu hẹp khoảng cách giữa trải nghiệm cá nhân. Xét từ thực tế này, có lẽ bản chất của tồn tại là cân bằng giữa tính cá nhân cố hữu với nhu cầu thuộc về một tổng thể lớn hơn.
Chừng nào bạn còn “sở hữu” chính mình—như một vật thể—thì trải nghiệm về con người của bạn chỉ đơn thuần là trải nghiệm về “một thứ trong số nhiều thứ.”
Martin Buber, ‘Giữa người và người’ (Between Man and Man)

Câu hỏi về khủng hoảng hiện sinh
Các câu hỏi hiện sinh (existential question) xoay quanh các chủ đề cốt lõi của sự tồn tại – ý nghĩa, mục đích, tự do, trách nhiệm, sự cô độc, cái chết, v.v… Những câu hỏi này thường khiến người ta cảm thấy bất an, bối rối hoặc thậm chí là sợ hãi, bởi vì chúng thách thức các giả định thông thường về cuộc sống và vai trò của chúng ta trong đó.
Chủ nghĩa hiện sinh (existentialism) là một phong trào triết học xuất hiện vào khoảng thế kỷ XX, chịu ảnh hưởng của các nhà tư tưởng lỗi lạc như:
Đọc thêm: Ngụy tín (Bad faith) – Khi ta tự dối bản thân để từ chối tự do
Không chỉ là một cách rèn luyện trí tuệ, chiêm nghiệm về các câu hỏi hiện sinh có thể dẫn tới những thay đổi đáng kể trong đời sống qua việc:
Đọc thêm: Chủ nghĩa hư vô, hiện sinh & phi lý – Đối diện với “vực thẳm” cuộc đời

Ý nghĩa của việc sống hiện sinh đối với con người trong cuộc sống hôm nay
Có thể bạn quan tâm:

Sau đây là một cuộc đối thoại giả tưởng giữa hai tư tưởng gia hiện sinh Nietzsche và Dostoevsky, lấy bối cảnh hai người [...]

Có bao giờ giữa guồng quay hối hả của cuộc sống, bạn chợt khựng lại, nhìn vào gương và tự hỏi: “Người đang sống cuộc đời [...]

Ngày 25 tháng 12 năm 2012 – lễ Giáng sinh! Đó là lần đầu tiên trong đời tôi đi xem phim ở rạp. Và bộ phim tôi xem hôm đó [...]